Nhà nước với GHPGVNTN : những vấn nạn cần được giải bày – Bài 1 : Phần 1 & 2

Nhà nước với GHPGVNTN : những vấn nạn cần được giải bày – Bài 1 : Phần 1 & 2 –

– Châu Hùng Sơn, Thailand 2008-03-01 –

PHẦN I
Hơn 30 năm (1975-2008) Biến cố pháp nạn XHCNVN đã đưa đến những hệ quả tang thương với dân tộc và tôn giáo, với Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất (GHPGVNTN), chung quanh những biến có nầy, có những vấn nạn cần được giải bày.

1. GHPGVNTN không là cộng sản,
[Sự thật đã bị một vài cá nhân xuyên tạc, vấn nạn nầy cần được giải bày]

Lịch sử Việt nam cận đại, nền Đệ nhất Cộng hòa (1954-1963) đã sang trang, biến cố nầy không do từ một cá nhân, một tổ chức, một sắc tộc vùng miền hay một tôn giáo nào gây nên; nó cũng không thể qui trách nhiệm cho riêng ai mà là hệ quả đau thương chung của dân tộc Việt nam – một dân tộc “đang hồi sinh” sau gần cả 100 năm Pháp thuộc – phải gánh chịu trước trước chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ.

Thế nhưng qua đó, một vài cá nhân do hằn sâu tâm chưa phai về thức biến cố 01-11-1963 đã cường điệu tư kiến chủ quan mình mà gán cho GHPGVNTN là chủ mưu gây nên. Mặt khác lại đánh đồng GHPGVNTN với cộng sản để đỗ trút những thù hiềm rồi ra sức đánh phá Phật giáo các tổ chức Phật giáo mà không chừa một nhóm nào cả. Đây là nhận định lệch lạc, là vấn nạn phân hóa dân tộc, chia rẽ tôn giáo, là sự thật đã bị một vài cá nhân xuyên tạc, pháp nạn nầy cần được giải bày để qua đó khơi thông dòng chảy Đạo pháp trong lòng dân tộc để đi đến giải trừ quốc nạn với pháp nạn XHCN ngày nay.

Điều dể hiểu là không thể đơn thuần do từ hiện tượng một vài cá nhân thành viên GHPGVNTN như Thích Trí Quang với hội chứng “bàn Phật xuống đường” (1966); như Thích Minh Châu với hội chứng “rước cộng sản vào thành” (30-04-1975; như Thích Mãn Giác với hội chứng huy động hằng trăm Tăng ni “mừng chiến thắng” ngày 15 tháng 05-1975 hay với hội chứng huy động hằng ngàn Tăng ni “mừng sinh nhật Hồ Chí Minh” ngày 19 tháng 05-1975; Hay như hội chứng Hoà thượng Thích Đôn Hậu 8 năm (1968-1975) bị áp chế phải sống trong lòng Hà Nội v.v… để đi đến phán quyết rằng GHPGVNTN là cộng sản. Bởi lẽ, Giáo hội nầy cũng là nạn nhân cộng sản, đã bị đánh phá suốt hơn 30 năm qua.

11. GHPGVNTN với bối cảnh chính trị thời thế.

Học lịch sử để làm nên lịch sử; những gì góp phần làm sáng tỏ lịch sử dân tộc – đạo pháp cũng cần phải nói cho tuổi trẻ ngày nay. Sự thành hình GHPGVNTN, một Giáo hội truyền thống Dân lập là sự kế thừa dòng chảy 2000 năm Phật giáo Việt nam, là sự kết tinh liên luỹ một quá trình dài trải qua: 981 Nhà Đinh (Giáo hội Khuông Việt), đến Nhà Lê – Lý (Giáo hội Vạn Hạnh) đến Nhà Trần (Giáo hội Trúc Lâm) cho đến 1951(Tổng Hội Phật giáo Việt nam), đến 1964 (GHPGVNTN) là cả một dòng chãy xuyên suốt được tổ đạo tiếp nối truyền thừa; thế nhưng sự thật lịch sử nầy gần như xa lạ với tuổi trẻ hôm nay.

Qua bao biến cố lịch sử Việt nam và lịch sử Phật giáo Việt nam như Đạo dụ số 10 năm 1950 do Quốc trưởng Bảo Đại ký; Như Tổng hội Phật giáo Việt nam 1951; Như cuộc chiêm ngưỡng rước xá lợi Phật tại Sài Gòn 1952 của Tổng hội PGVN; Như sự ra đời của Mặt trận giải phóng miền Nam 1960; Như kế hoạch nước lũ của Nhu – Diệm tấn công chùa chiền toàn quốc 20-08-63; Như thành lập Uỷ ban liên phái Phật Giáo của Tổng hội Phật Giáo Việt Nam 1963, Như sự thành lập Uỷ ban liên bộ của chính phủ Diện 1963; Như thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt nam Thống nhất 1964; Như Hiến chương Vũng Tàu 1964 của Quốc trưởng Nguyễn Khánh; Như Hội chứng “bàn Phật xuống đường” chống chính phủ Thiệu-Kỳ của Thích Trí Quang 1966; Như hiện tượng tách dòng chãy GHPGVNTN với Việt Nam Quốc Tự của Thầy Thích Tâm Châu 1967; Như hiện tượng GHPGVNTN bỏ ngõ chính trị sau 1964; Như vấn nạn “một tổ chức trong một tổ chức” qua “lỗ đen” pháp lý cơ chế Gia đình Phật tử Việt nam 1964 do Thích Minh Châu thông qua Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm (Tống Anh Nghị) gây nên đã đặt sinh hoạt Gia đình Phật tử Việt nam vượt ngoài tầm kiểm soát của GHPGVNTN, cũng như những biến cố lịch sử có cùng thông số như thế, tất cả đã đưa đến hệ quả là GHPGVNTN đã bị các thế lực chính trị phe nhóm lợi dụng và khuynh đảo.

Sự kiện Mặt trận giải phóng miền Nam nằm vùng trong Viện Hóa Đạo (VHĐ), giựt dây, khuynh đảo “Phật giáo Ấn Quang” suốt 10 năm (1964-75) là một trong những điển hình. Những hệ quả chính trị như thế chẳng những tác hại lớn lao cho chính GHPGVNTN mà còn cho cả sự sống còn của nền chính trị miền Nam Việt nam nữa.

Cơn lốc chính trị Nam Việt nam 64-75 đã cuốn hút nhiều thành viên GHPGVNTN dính dự vào chính trị, thực tế nầy khiến Viện Hoá Đạo nhiều lần lên tiếng can ngăn. Điển hình là Thông tư số 150 VHĐ/TT/VT, ngày 22-01-1975 yêu cầu các thành viên của GH không nên tham gia bất cứ tổ chức chính trị nào. Thông tư có đoạn: “Để tránh mọi ngộ nhận có thể có đối với lập trường và đường hướng cố hữu của GH, VHĐ kính yêu cầu quý vị hãy thận trọng, không nên tham gia bất cứ tổ chức nào ngoài tổ chức của GH, nhất là những tổ chức có tính cách chính trị. Trong trường hợp vị nào đã tham gia những tổ chức như thế thì hãy tự nguyện chấp trì nghiêm chỉnh tinh thần Thông tư này”.

Trong khi đó, đời sống xã hội Nam Việt Nam qua 2 thời kỳ: Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa, chiến tranh triền miên xãy ra khắp vùng nông thôn. Ở thành thị thì chính trị luôn bị chao đảo, việc “thay ngôi, đổi chủ” vào giai đoạn 64-66 diễn ra đến chóng mặt. Người dân nông thôn thì cần được sự bảo vệ của chính quyền Ông Diệm – Ông Thiệu để được “an cư lạc nghiệp” ra ngoài sự kiềm kẹp, dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa của bọn cộng sản “nằm vùng” hoạt động ngày càn lan nhanh và lớn mạnh. Thế nhưng thật thảm hại thay! “lá chắn” bảo vệ người dân nông thôn đã bị rách nát, te tua, loang lỗ, việc bảo vệ dân an ổn bên ngoài lan ranh Quốc gia – Cộng sản, chính quyền Cộng hòa gần như “bỏ ngõ vùng nông thôn để mặt cho Việt cộng hoành hành. Và thực tế là nơi vùng “xôi đậu” thì ban đêm là Việt cộng làm chủ hoàn toàn. Mười người chứa có lấy được 2 là “vui vẻ” đi theo Việt cộng, họ chỉ bị rơi vào thế phải đi theo mà thôi. Cái cảnh cứ hể ban đêm là Việt cộng ghé nhà nào giả vờ “xin nước uống, cơm ăn” mà năm ba lần như thế thì sáng ra, nhà đó đã khóm ấp nghi kỵ rồi. Không những tụi Việt cộng chỉ ghé nhà xin cơm nước mà nó còn cố tâm để lại vài trái lựu đạn, cây súng cũ rỉ sét vì … bị quốc gia hành quân ruồng bố không kịp mang theo. Người dân sống trong cái cảnh như thế mà khi quốc gia bố ráp tràn đến thì chết mẹ cái thằng nông dân “lì lợm ngoan cố” không chịu theo cộng sản kia rồi. Cho nên khi việc cộng sản vu vạ xãy ra như thế thì nếu muốn sống trước mắt là phải ôm ba cái “đồ quốc cấm: súng lục, lựu đạn” kia mà … chạy theo Việt cộng để … lạy mấy ông, vang xin mấy đảng mà trả lại. Cái cảnh như thế cứ diễn ra, trong khi đó thì chính quyền quốc gia bất lực trong việc bảo vệ dân. Cho nên Việt cộng mọc lên như nấm sau cơn mưa; Đó cũng chính là nguyên nhân chủ yếu làm cộng sản phát triển nhanh chóng tại miền Nam Việt Nam. Trong khi đó vùng thành thị thì Việt cộng tràn ngập trong nhiều cơ sở tôn giáo (kể cả với Ki Tô giáo) mà không riêng gì Phật giáo Ấn Quang. Chính quyền Cộng hòa bất lực bảo vệ người dân trước làn sóng xâm nhập của cộng sản.

Bên cạnh đó, Chính sách phiệt đạo Kitô giáo Việt Nam đã là nguyên nhân làm Việt cộng tăng trưởng nhanh chóng tại miền Nam Việt Nam. Sự vụn về trong chính sách Tôn giáo của chính quyền Diệm-Thiệu qua chiến dịch “cải đạo” đã đưa đến hệ quả là người dân chỉ có hai con đường là ra bưng, vào chiến khu, hoặc là “nằm vùng” trong Phật giáo để được yên thân.

Thứ nữa là cơ chế Hiến chương GHPGVNTN có điều còn lõng lẽo, nhất là điều khoảng “Trưởng Ban hướng dẫn TW Gia đình Phật tử đương nhiên là Vụ Trưởng”, một ngoại lệ “xé rào” mà các Tổng vụ khác không có; một khâu nhân sự Gia đình Phật tử đã bị “chọc thủn lổ đen” mà người cố tâm tạo ra sự và vun dưỡng “cơ chế tai họa” nầy tồn tại qua cả chục năm (1964-1975) đó là những tên tội đồ giáo gian Minh Châu với đặc tình cộng sản Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm mà di họa của nó còn truyền xuống đến Nguyên Tín – Nguyễn Châu, Bạch Hoa Mai (phải gọi cái tên nầy là Xích Hoa Mai thì đúng hơn)1. Đó chính là “vùng đất tốt” cho Việt cộng nằm vùng trong Viện hóa đạo. Bên cạnh đó, sự “bỏ ngỏ” tán trợ chính trị của GHPGVNTN qua sinh hoạt chính trị của tín đồ Phật tử đã tạo nên “đất trống cỏ mọc thành hoang” và đưa đến vấn nạn chính “loài cỏ hoang” kia đã tạo nên vấn nạn “Phật giáo Ấn Quang” thân cộng.

Trong bối cảnh dòng thát chính trị như thế, vấn đề đặt ra là Phật giáo quan niệm chính trị là như thế nào? và GHPGVNTN có làm chính trị hay không?

12. Quan niệm chính trị theo pháp luật XHCNVN.

“Mỗi công dân đều có quyền bầu cử (bày tỏ thái độ chính trị, chọn người tốt, không chọn người xấu…) và ứng cử (tham dự chính quyền)”

“Mỗi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, nghiêm cấm mọi hình thức phân biệt đối xử …”

Như vậy theo pháp luật XHCNVN chính trị là quyền của mỗi công dân, quyền nầy được luật pháp công nhận và bảo hộ. Và về mặt từ ngữ, việc biểu hiện chính trị có 2 cách: Một là tham dự chính quyền và Hai là bày tỏ thái độ chính trị.

13. Quan niệm chính trị theo góc độ Phật giáo.

Luật nhà Phật (luật tỳ kheo) chỉ ngăn cấm Tăng sĩ Phật giáo không được làm chính trị; còn với người Phật tử thì không bị ràng buộc bởi luật nầy. Như vậy, từ góc độ luật pháp với luật nhà Phật trong cách nhìn tham chiếu thì một Tăng sĩ Phật giáo chỉ được quyền bày tỏ thái độ chính trị (bao gồm quyền bầu cử v.v…) mà không được tham dự chính quyền (như ứng cử đại biểu chính phủ các cấp). Trong khi đó người Phật tử có quyền tham gia chính trị như mọi công dân khác.
<!–[if !supportLineBreakNewLine]–><!–[endif]–>

14. Quyền bày tỏ thái độ chính trị của công dân.

GHPGVNTN không ủng hộ riêng một đảng phái, cá nhân nào nhưng Giáo hội có quyền ca ngợi về một đường lối chính trị nhân bản, có quyền lên án về một đường lối chính trị phi nhân, hại nước, bán nước. Giáo hội không làm chính trị nhưng Giáo hội có quyền đề vạch, bảo hộ, tán trợ đường hướng chính trị dân chủ, nhân bản cho tín đồ, cho quần chúng.

PHẦN II

15. Thực trạng Phật giáo Ấn Quang trước “cơn lốc” chính biến thời thế

Là tổ chức quần chúng rộng lớn có truyền thống lâu đời, GHPGVNTN mặc nhiên đã là một thực lực quần chúng lớn mạnh có ảnh hưởng nhất định đến đường hướng chính trị trong xã hội đương thời. Mặt khác, GHPGVNTN hình thành vào năm 1964 trong bối cảnh giao lưu chính trị giữa các thế lực Quốc tế như: Hoa Kỳ, Liên xô, Trung cộng, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Việt nam Cộng hoà, Cộng sản Việt nam, Mặt trận giải phóng miền Nam Việt nam. Chính vì đứng trước “ngã bảy” giao lưu chính trị như thế, cho nên về một mặt nào đó, Viện hóa đạo đã trở nên “điểm hẹn” bởi “những nhà kinh doanh chính trị” và vì thế, họ luôn đặt “Phật Giáo Ấn Quang” lên “bàn cân” chính trường quốc tế để ngã giá. Bên cạnh đó bằng nhiều cách, họ lôi kéo thành viên Viện Hoá Đạo cộng tác chính trị theo hướng có lợi cho tổ chức họ. Chính vì thế, có không ít thành viên Giáo hội đã nhập nhằng vai trò cá nhân với tổ chức trong quan hệ chính trị, một vài thành viên Giáo hội đã đơn phương dính dự các tổ chức chính trị mà hơn thế nữa họ đã “đi hàng hai” giữa thành viên Giáo hội với phe nhóm chính trị thời thế. Trong số nầy không loại trừ nhóm cộng sản nằm vùng trong Viện Hoá Đạo, họ được “choàng lên” chiếc áo thành viên GHPGVNTN nhưng lại theo đuổi mục đích chính trị cho tổ chức họ. Từ đó tạo nên vấn nạn “Phật Giáo Ấn Quang thân Mỹ”; “Phật Giáo Ấn Quang thân cộng”; “Phật Giáo Ấn Quang rước cộng sản vào thành”.

Với lập trường đạo pháp trong lòng dân tộc, GHPGVNTN đã vượt qua cơn lốc thời thế chính trị cuồng nộ và thực tế nầy đã đặt hàng lãnh đạo GHPGVNTN trước nhiều thử thách gian nan. Điều nầy càn rõ nét hơn qua lời Cố Hòa thượng Thích Huyền Quang, Phó Viện Hóa Đạo truy tán cố Hoà thượng Thích Thiện Minh, Cố vấn Viện Hoá Đạo, nhân dịp lễ kỷ niệm cúng tuần 100 ngày: tiểu tường (1989) của Ngài tại chính điện chùa Ấn Quang (Chợ Lớn):

“Kề vai chung sức chung lòng cùng pháp lữ đồng liêu,
Đưa Giáo hội mười năm ròng qua cơn sóng gió”.

Do đó, thực trạng chính trị lúc bấy giờ, GHPGVNTN lại bị cuốn hút vào cơn lốc chính trị thời thế. Cho nên con thuyền GH muốn đứng vững giữa phong ba thời thế thì Giáo Hội cần có những khuông mặt Phật tử sáng giá trên chính trường do chính Giáo Hội đào tạo. Thế nhưng GH đào tạo Nhân Sự lấy từ nguồn nào?

Gia đình Phật tử (GĐPT) vốn là “vùng đất tốt” cung cấp nguồn nhân sự “hộ trì chánh pháp” cho Giáo Hội. Thế nhưng do từ “lỗ đen” cơ chế Hiến chương GHPGVNTN (1964), nguồn đào tạo nhân sự nầy lại bỏ ngõ từ sau 1964. Trong các Tổng vụ thuộc GH chưa thấy có “đất đứng” cho việc đào tạo nhân sự theo nghĩa Phật tử tham chính; một sự “bỏ ngõ” đào tạo Phật tử tham chính hơn 10 năm (1964-1975) như thế đã gây nên biết bao tai vạ cho GH.

Thứ nhất, đường hướng vận động hoà bình của GHPGVNTN như những năm 1972 thì khâu nhân sự lại “vai mượn người ngoài” làm người mình. Việc Giáo Hội giới thiệu Bác sĩ Trương Đình Dzu ứng cử Tổng Thống 1967; việc dùng Bác Sĩ Phan Huy Quát là một điển hình. Thứ hai, Tổng vụ Thanh niên là “Nguồn” cung cấp nhân sự theo nghĩa hiền tài là nguyên khí quốc gia thì lại rơi vào sự khuynh đảo của cộng sản do Gian đạo sĩ Minh Châu cùng những cộng sự đắc lực như Võ Đình Cương – Tống Hồ Cầm (Tống Anh Nghị) trợ tâm giúp sức. Trong khi đó cha đẻ soạn ra Hiến chương GHPGVNTN (1964) có điều khoản “thả cửa thành nội” như thế lại là Hòa thượng Thích Trí Quang. Việc thả cửa nhân sự nầy người soạn ra Hiến chương (Thích trí Quang) không phải không thấy – biết mà là có thấy biết nhưng lại lờ đi vì lý do chính trị có lợi cho phe nhóm của họ mà cũng là có lợi cho cộng sản nữa. Điển hình là cơ chế Gia đình Phật tử Việt nam (GĐPTVN) đã bị khuynh đảo hằng chục năm qua (1964-2008), đó cũng chính là “lá chắn” cơ chế nhân sự “bỏ ngõ” cho cộng sản chui vào tổ chức Giáo Hội như hệ qua tang thương còn di chứng đến nay mà nhóm virus Nguyễn Châu – Xích Hoa Mai (Bạch Hoa Mai) đang hoành hành toàn thân ngôi nhà Gia đình Phật tử Việt nam như đã thấy.

Bên trên, bên dưới, bên trong, chung quanh Hoà thượng Thích Trí Quang là cả một “đội quân” hoạt động chính trị (kể cả sự có mặt của Mặt trận giải phóng miền Nam), Họ “mượn” chùa Ấn Quang làm “điểm hẹn”; Chung quanh Giáo gian Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh có hàng tá cộng sản nằm vùng mà Viện Đại học Vạn Hạnh là “vùng đất tốt” cho những con virus cộng sản vun thân; Chung quanh Hoà thượng Thích Thiện Minh, qua sự giới thiệu của giao gian Minh Châu, Trung tâm Quảng Đức, trụ sở Tổng vụ Thanh niên cũng là vùng đất “an toàn khu” cho cộng sản hoạt động nội thành “ẩn dương nương Phật” mà Hoàng Văn Giàu (Hoàng Nguyên Nhuận) là Trưởng nhóm Sinh viên Phật tử Sài gòn do là một điển hình. (Việc Giáo gian Minh Châu cài người vào Trung tâm Quảng Đức, việc nầy Hòa thượng Thích Thiện Minh cũng không phát hiện được); Chung quanh Hoà thượng Thích Trí Thủ, Tu viện Già Lam, Gò Vấp cũng không thiếu bóng dáng cộng sản trong đó, Việc Hoà thượng Thích Trí Thủ giới thiệu Đỗ Trung Hiếu (Mười Anh) qua “tu học” tại Thanh Minh Thiền Viện (nơi Cụ Thích Quảng Độ cư ngụ) cũng cho thấy, thông qua Thầy Trí Thủ, cộng sản đã “cài eng ten” quanh Thầy Quảng Độ từ những năm 1966 mà chính Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng không phát hiện ra (Mười Anh xuất thân thuộc truyền thống Phật tử thuần thành, bà mẹ Mười Anh là đệ tử cụ Trí Thủ. Mười Anh hoạt động ở Huế bị lộ, được Trí thủ đưa vào Sài gòn, giới thiệu qua Thanh Minh Thiền viện (là nơi an ổn nhất bấy giờ) nằm vùng nội thành, hoạt động trí vận. Từ uy tín Trí Thủ, được “dù lộng” ông Tổng vụ trưởng, Tổng vụ Tài chánh như Trí Thủ che chở thì cho dù Lê nin sống lại cũng không tài nào lần ra dấu vết đặc tình nội thành của Mười Anh được cả. Ngay cả Hòa thượng Thích Quảng Độ cư ngụ Thanh Minh Thiền viện lúc đó cũng không phát hiện được việc nầy. Đến sau 1975, chính Mười Anh trở lại đấu tố Hòa thượng Thích Quảng Độ.); Chung quanh Hoà thượng Thích Trí Tịnh (chùa Vạn Đức, Thủ Đức, Sài gòn) cũng có hằng lố Việt cộng nằm vùng mà Cao đẳng Phật học viện Huê Nghiêm, (An dưỡng địa, Bình Chánh, Sài Gòn), nơi đây cũng có bóng dáng những tên đặc công Việt cộng nội thành đủ loại hạng. Đó là chưa nói đến những nhóm khác, cơ sở khác như chùa Phổ Quang (gần sân bay Tân Sơn Nhất) của Thầy Thích Trí Dũng, Chùa Khánh Hưng của “Gían điệp hai mang” Thích Pháp Lan , Tịnh xá Ngọc Phương của Ni sư Huỳnh Liên, Chùa Giác Lâm … Tất cả đã một thời góp phần làm nên bản doanh an toàn cho nhóm cộng sản hoạt động nội thành làm mưa làm gió với chính quyền quốc gia, như điều Quán Như đã tự phơi trần qua bài “Hoàng Nguyên Nhuận, mối tình đoàn hữu hơn 30 năm”.. . đó là những vấn nạn thống hận với GHPGVNTN cần được giải bày.

Bỏ ngõ chính trị sau 1964, Giáo Hội như con thuyền đi trong mưa bảo thời thế và do đó nó sẽ chao đảo vào tay những cá nhân, để cá nhân khuynh đảo Giáo hội và Viện Hoá Đạo cũng bị cuốn hút vào cơn lốc chính biến thời đại mà không cưỡng lại được. Điển hình là từ chính biến Hiến chương Vũng Tàu (1965) của quân đội; Hội chứng “bàn thờ Phật xuống đường” (1966) của Thích Trí Quang; Hay thành lập Lực lượng Hoà giải Dân tộc, ủng hộ “thành phần thứ ba”: Mặt trận giải phóng miền Nam (1968) của Nhất Hạnh; Hay tuyên bố tách khỏi đường lối vận động Hoà bình của Giáo Hội (1972) của Giáo gian Minh Châu; Hay thái độ ly khai Giáo Hội (1974) của giáo gian Trí Tịnh hay Hội chứng “bên vua có chúa” trong cơ chế Gia Đình Phật tử Việt Nam (GĐPTVN); cơ chế Trưởng ban hướng dẫn TW GĐPTVN đương nhiên là vụ trưởng GĐPTVN mà không do Viện trưởng Viện Hoá Đạo bổ nhiệm (Đại hội Huyền Trang, Đà Lạt1969) của giáo gian Minh Châu thông qua Võ Đình Cường – Tống Hồ cầm (hiện tượng Võ Đình Cường rút tên vào giờ chót trong danh sách Thành viên phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tham dự Hội nghị Phật Giáo thế giới 1950 tại Tích Lan do Thượng toạ Thích Tố Liên trưởng đoàn, điều nầy đã cho thấy ngay từ những năm 1950 Võ Đình Cường thuộc nhóm chính trị nào rồi).

Từ Hội chứng đó, GHPGVNTN trong giai đoạn1966-1975 bị khuynh đảo bởi những cá nhân mượn Viện hóa đạo “làm bệ phóng” để hoạt động cho phe nhóm của tổ chức mình. Điển hình là nhóm Trí Quang + Nhất Hạnh + Minh Châu + Trí Tịnh + Trí Thủ + Mãn Giác + đã thao túng “Phật giáo Ấn Quang” theo hướng có lợi cho cộng sản, từ đó tạo nên vấn nạn “Phật giáo Ấn Quang thân cộng” và vấn nạn nầy kéo dài cho đến 1975.

Đến 30-04-75 khi cộng sản vào thành thì nhóm thân cộng Minh Châu, Trí Tịnh lại hồ hởi “rước cộng sản vào thành”. Thế nhưng cũng cùng thời điểm đó, Nhóm Viện hóa đạo: Hòa thượng Thích Đôn Hậu +Thích Thiện Minh + Thích Huyền Quang + Thích Quảng Độ lại bị Ông Nguyễn Văn Hiếu, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, CHXHCNVN gán cho bản án: “Phật giáo Ấn Quang phản động”.

Như vậy GHPGVNTN 1964 (của Nhóm Hòa Thượng Thích Thiện Hoa , Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang , Thích Quảng Độ) không phải là GHPGVNTN 1966-75 của nhóm Trí Quang, thực trạng Phật giáo Ấn Quang như thế đã rõ ràng. Thế nhưng do quan niệm chính trị, nhà nước cố tình gán cho GHPGVNTN là thân Mỹ để triệt hạ; rồi do “đánh bẩn ăn hôi”, Chu Sa cố đánh đồng GHPGVNTN với cộng sản là một để đánh phá theo mưu đồ cá nhân (Tú Gàn, Cộng sản âm mưu biến đảng thành đạo).

Cũng chưa vội bàn đến việc thành viên GHPGVNTN tham gia chính trị theo phe nhóm nào, là có lợi hay có hại cho GH ra sao? Chỉ ngay việc một cá nhân Tăng sĩ – thành viên GHPGVNTN hoạt động chính trị mà đường hướng đó không do Giáo hội đề vạch là cá nhân đó đã khuynh đảo Giáo Hội rồi. Một tổng hợp từ Vân Thanh, Lịch sử Phật Giáo Việt Nam 1974; Thích Đức Nhuận, Đạo Phật Việt, 1999; Quốc Tuệ, Công cuốc tranh đấu của GHPGVNTN; qua đó cho thấy giai đoạn 1964-1975 (10 năm) cơn lốc chính trị đã khuynh đảo GHPGVNTN bởi những cá nhân như loại hình nói trên.

Sau 1975 những tên nằm vùng Phật giáo Ấn Quang lộ mặt như: Minh Châu, Trí Tịnh, Mãn Giác, Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm, Vũ Ngọc Nhạ, Minh Nguyệt, Thiện Hào, Hiển Pháp (Sáu Ngọc), Từ Hạnh, Pháp Lan, Hoàng Văn Giàu (Anh Giàu)…, bọn nầy đã hồ hởi “rước cộng sản vào thành”, “mừng sinh nhật HCM”, biến cố trên đưa đến vấn nạn “Phật giáo Ấn Quang” là cộng sản. Chưa hết,

Sau 30-04-75, Theo chiến lược đường dài, nhà nước mở ra chiến lược mới, phân công tác cho đám giáo gian để, một số tiếp tục “nằm vùng” lại trong tôn giáo qua nhiều vai diễn; số khác theo chân người vượt biên tỵ nạn cộng sản ra hải ngoại, họ cũng mặc chiếc áo Phật giáo với lôgo Phật Giáo vì dân tộc … Sô Viết nhưng thực chất là đánh phá GHPGVNTN theo kế sách của Hà Nội. Giáo gian Thông Kinh (Thích Đồng Điển) xuất thân chùa Đông Hưng, Việt nam, Giáo gian Hạnh Đạo (Hoa Kỳ) là những điển hình. Việt gian cấu kết với Giáo gian thành hình nhóm Thân hữu Già Lam – Thân hữu già Hồ, lấy nhóm Tăng ni hải ngoại làm hậu thuẩn, dựng lên nhóm Về nguồn ly khai GHPGVNTN. Nhóm Về nguồn lại “đổi màu” thành Con tàu “mười lăm toa”: Cộng đồng Phật giáo Việt nam hải ngoại do giáo gian Giác Nhôm – Ất Cái Vồn (Giác Nhiên) làm ngựa kéo.

Chóp bu trong nhóm đặc tình Tôn giáo vận cộng sản hải ngoại nói trên là Nhóm Hạnh – Phượng (Nhất – Hạnh, Cao Ngọc Phượng) làng Mai nước Pháp. Giáo chủ Hạnh – Phượng “thả vòi” khắp các châu lục trên thế giới; khắp trong ngoài nước. Chùa Pháp Vân Canada của Thích Tâm Hòa hiện nay là chi bộ của Làng Mai, giáo gian Bổn Đạt làm bí thư chi bộ. Làng Mai cũng tài trợ “thẳng cánh” cho Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Nhật Từ trong nước. Rồi theo chỉ thị của Bí thư thứ nhất làng Mai, Cao Ngọc Phượng, Tuệ Sĩ “rao loa” xóa bỏ “bát kỉnh pháp” trên Paltalk diễn đàn Tăng Ni để Nhất Hạnh phu nhân mặc tình “tò te” Thiền ôm sát bên Giáo chủ Mai – Hồng theo kiểu “võng Anh lăn bánh [võng hiện đại có gắn bánh xe] võng Bà theo Bên” để mà lăn cao, lăn thấp, lăn ngắn, lăn dài, lăn trên, lăn dưới, lăn trên “xanh thẩm từng không”, lăn vào thôn – làng – bản – xóc – buông- truông mà không phải vướn bận thanh qui chi Mác Mao Hồ cộng. Giáo gian Nhật Từ cũng vảnh tai “đón gió” “chia phần sơ múi” với Tuệ Sĩ qua lãnh dịch vụ “bao thầu trọn gói” tuyên truyền Kinh Nhật Tụng theo làng Mai, nữa Nam nữa Bắc tông, thật quái vị vô cùng. Chưa hết Từ tất tám “rể Giác Nhôm” lại còn lãnh thầu hô hào “bỏ Bát kỉnh pháp” phun rãi nộc độc Mác – Lê – Hồ trên bụt giảng Học viện Vạn Hạnh, thành Hồ. Những hệ quả tang thương trên đều do từ giáo dục thuần túy XHCN mà ra.

16. Phật giáo Ấn Quang dưới cái nhìn của đảng cộng sản

GHPGVNTN là một thực lực chính trị khiến nhiều tổ chức chính trị khác luôn “đặc biệt quan tâm”. Rõ nét hơn nữa qua nhận định của Ông Xuân Thuỷ, bí thư Trung ương Ðảng cộng sản, khi bàn về Thống nhất Phật Giáo, Xuân Thuỷ đã nói về GHPGVNTN như sau: “Quan trọng là Đảng không bao giờ lãnh đạo được GHPGVNTN, mà ngược lại GHPGVNTN trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức áp lực chính trị thường trực với Đảng và chính phủ Việt Nam” (Đỗ Trung Hiếu, Thống nhất Phật Giáo). Một khi cộng sản với cái nhìn GHPGVNTN bọn “Phật giáo phản động” và khi “quan tâm không được” mà mua chuộc cũng chẳng xong thì việc đánh phá GHPGVNTN là lẻ tất nhiên rồi.

Vào một dịp Hòa thượng Thích Đôn Hậu trưởng đoàn Viện hóa đạo, GHPGVNTN xin nhà nước XHCN để Thống nhất Phật giáo 2 miền Nam Bắc, thì cùng cách nhìn theo trường lớp Marlxism như Ông Xuân Thủy, Ông Nguyễn Văn Hiếu, Bộ trưởng Bộ Văn hóa CHXHCNVN trả lời: “Thống nhất Phật giáo thì tốt, nhưng Thống nhất với Phật Giáo cách mạng chứ Thống nhất làm gì với bọn Phật Giáo phản động”. Như vậy, hơn ai hết, cộng sản vẫn biết rõ thành phần GHPGVNTN không phải là một nhóm mà theo cái nhìn của đảng cộng sản, Phật giáo có 2 nhóm: “Phật Giáo cách mạng” và “Phật giáo [Ấn Quang] phản động”.

Trước kia thời pháp nạn Nhu – Diệm 1963, chính quyền gán cho Viện Hoá Đạo là cộng sản để triệt hạ. Đến sau 1975 Nhà nước XHCNVN cho “Phật giáo Ấn Quang” là bọn “Phật giáo phản động” để xóa sổ. Như vậy, không thể nói rằng “Phật Giáo Ấn Quang thân Mỹ” hay “Phật Giáo Ấn Quang thân cộng” mà chỉ có một vài cá nhân thành viên VHĐ ngã theo lập trừơng chính trị bên nầy hay bên kia mà thôi.

Thế nhưng, dưới cái nhìn của quần chúng, việc giáo gian Minh Châu kéo một nhóm sinh viên Đại Học Vạn Hạnh ra Ngã tư Bảy Hiền đón đám ăn cướp gọi là “quân giải phóng” vào chiếm Sài Gòn; hay Thích Mãn Giác huy động hằng trăm Tăng, Ni tụ tập tại địa điểm chùa Ấn Quang để diễn hành đến dinh Độc lập “mừng chiến thắng” 15-05-75; Hay kêu gọi hàng ngàn Tăng, Ni Phật tử, quần chúng tụ tập tại điểm chùa Ấn Quang để diễn hành đến dinh Độc lập “mừng sinh nhật HCM” 19-05-75 có sự tiếp tay của bọn cộng sản nằm vùng , những hiện tượng điển hình như trên đã vượt ngoài tầm kiểm soát của GHPGVNTN.

Thực trạng trên đây của nhóm giáo gian Minh Châu (của cá nhân), đó không còn là thái độ chính trị nữa mà đã là tham dự chính trị rồi. Chính từ đó, đưa đến ngộ nhận rằng “Phật Giáo Ấn Quang rước cộng sản vào thành”, đưa đến những hệ quả tác hại không lường chẳng những là với GHPGVNTN mà còn với cả đoàn thể chính trị Cộng hòa sau 1975 nữa.

Cho nên GHPGVNTN bỏ ngõ chính trị là một sai lầm. Bỏ ngõ chính trị sau pháp nạn 1963, Giáo Hội mắc phải sai lầm là “dọn đất trống cho cỏ dại tràn lan”. Để rồi chính “đám cỏ dại” kia trở lại đánh phá Giáo Hội. Do đó cơ chế Hiến Chương GHPGVNTN (1971) cần phải được tu chính. Qua đó Vụ nhân sự (trực thuộc Tổng vụ Thanh niên GH) cần phải được thiết lập.

GHPGVNTN không theo khuynh hướng chính trị thời thế nào. Thế nhưng một khi nhập cuộc đấu tranh trong hoàn cảnh pháp nạn XHCNVN ngày nay là đã chấp nhận vấn thân giữa những làn tên mũi đạn bốn bề tám hướng rồi; đó là hệ quả pháp nạn XHCNVN với Giáo hội, một điều không tránh khỏi. Cho nên cần phải có cơ chế Hiến chương thích nghi với thời thế.

Trong bối cảnh dòng thác chính trị cuồn nộ như thế, vấn đề đặt ra là GHPGVNTN có làm chính trị không?

http://tinparis.net/vn_index.html

One thought on “Nhà nước với GHPGVNTN : những vấn nạn cần được giải bày – Bài 1 : Phần 1 & 2

  1. Pingback: Mục Lục Dân Chủ Tự Do Weblog « Danchutudo’s Weblog

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s